TuanAnh Nguyen

Publish secrets  

3 Tips for Making the Most of Social Media

Everyone wants to jump on the social media bandwagon these days. Yet it takes a lot of care to be sure your Facebook page gets viewed and your tweets get read. Here are three tips for making the most of social media:
  1. Speak to your customers' core interests. Don't rely on marketing gimmicks. If your customers are parents, talk to them about kids. If they are pet lovers, talk about pets. Know what your customers care about most and address those concerns.
  2. Put your audience in the driver's seat. Find ways to get your customers involved in decision-making. Ask them to submit new slogans or ad ideas.
  3. Use media to deliver value and services. Social media isn't just a marketing tool. The Mid-Atlantic Great Dane Rescue League uses Twitter to share descriptions and photos of dogs available for adoption. Which of your services could be delivered through a social network or online community? http://hbdm.harvardbusiness.org/

Loading mentions Retweet
Filed under  //   social media  

Comments [0]

Nokia takes on iPhone in legal fight

 

By Andrew Ward in Stockholm and David Gelles in San Francisco

Published: October 22 2009 16:22 | Last updated: October 22 2009 21:21

Nokia, the world’s biggest mobile-phone maker, on Thursday launched a legal challenge against alleged intellectual property abuse by Apple, opening a new front in its battle against a US rival that is transforming the industry.

A lawsuit filed in a US federal court in Delaware accused Apple of infringing 10 Nokia patents in all 30m of its flagship iPhones sold since the US company entered the mobile market in 2007.

The move sets the stage for a court battle between the industry leader and its fastest-growing challenger over one of the hottest products in consumer technology.

Ilkka Rahnasto, Nokia’s head of legal affairs and intellectual property, accused Apple of seeking “a free ride on the back of Nokia’s innovation”.

The dispute comes as Nokia attempts a fightback against Apple in the rapidly expanding smartphone market as consumers shift from traditional handsets to phones that double as mini-computers. Nokia remains the biggest maker of smartphones, which offer services such as e-mail, music and video, but is losing market share to the iPhone and the BlackBerry range of devices made by Canada’s Research in Motion.

Their contrasting fortunes were highlighted this week when Apple announced a 47 per cent jump in third-quarter profits days after Nokia said it had fallen into loss.

Nokia said the disputed patents involved technologies that were “fundamental” to the manufacturing of third-generation mobile phones, including wireless data, speech coding, security and encryption.

“The basic principle in the mobile industry is that those companies who contribute in technology development to establish standards create intellectual property, which others then need to compensate for,” said Mr Rahnasto. “Apple is also expected to follow this principle. By refusing to agree appropriate terms for Nokia’s intellectual property, Apple is attempting to get a free ride on the back of Nokia’s innovation.”

Apple, which sold a record 7.4m iPhones in the third quarter of this year, did not return calls for comment.

Apple has established itself as a pioneer in the smartphone market, bringing together a powerful handheld computer with a sleek interface that has proved a hit with consumers and spawned imitators.

Apple has previously been seen as the aggressor when it comes to smartphone patents. Earlier this year, when Palm launched the Pre, Apple threatened to sue Palm over its multi-touch interface.

William A. Stofega, a mobile analyst with market research company IDC, said this had had a chilling effect on innovation: “The rumours were that certain devices were held back because of the threat of lawsuits.”

EDITOR’S CHOICE

Nokia statement - Oct-22

Tech blog: The latest iPhone challenger - Oct-22

AT&T’s profits boosted by iPhone demand - Oct-22

Ericsson profits down 72% on weak demand - Oct-23

Lex: Ericsson - Oct-22

US regulators close to agreeing net neutrality rules - Oct-22


via http://cricesis.tumblr.com/

Loading mentions Retweet
Filed under  //   legal fight   tech law  

Comments [0]

Hồi ức của thiên tài

Joe Flom là sáng lập viên còn sống cuối cùng "góp tên" trong Hãng luật Skadden, Arps, Slate, Meagher và Flom danh tiếng tại Mỹ với trên 2.000 thành viên. Ông được xếp vào danh sách những kẻ xuất chúng với những bí kíp khiến người ta phải săn tìm.

Ông có một góc làm việc trên tầng chóp của tòa nhà Condé Nast ở Manhattan. Ông thấp và hơi gù. Đầu to, tai lớn với dái tai dài, đôi mắt nhỏ màu xanh ẩn sau mắt kính kiểu phi công to quá khổ. Giờ thì ông khá gầy, nhưng trong những tháng ngày huy hoàng, ông rất bệ vệ. Ông lụt tụt khi bước đi. Ông đứng sững khi suy nghĩ. Ông lầm bầm khi trò chuyện, và khi ông bước xuống khu sảnh của Skadden, Arps, những cuộc đối thoại chỉ còn là lào phào im lặng.

Flom sinh trưởng tại vùng phụ cận Borough Park của Brooklyn, đúng trong thời kỳ Đại khủng hoảng - bắt đầu từ năm 1929 và kết thúc cuối thập niên 1930. Các sử gia thường lấy mốc đánh dấu khởi đầu giai đoạn này vào ngày 29/10/1929 - ngày thị trường chứng khoán sụp đổ. Cha mẹ ông là dân nhập cư Do Thái đến từ Đông Âu. Cha ông - Isadore vốn là người tổ chức nghiệp đoàn trong ngành may mặc, sau chuyển sang công việc may đệm vai cho trang phục nữ. Mẹ ông thì nhận đồ trang trí thủ công về làm thêm tại nhà. Họ nghèo túng thảm thương. Khi Joe lớn, hầu như năm nào gia đình ông cũng chuyển nhà, vì thời bấy giờ, theo thông lệ chủ nhà sẽ cho người thuê mới miễn phí một tháng tiền nhà, điều rất quan trọng đối với gia đình Flom.

Lớn lên, Flom dự tuyển vào trường trung học công lập Townsend Harris danh giá, một trường mà trong bốn mươi năm tồn tại đã sản sinh ra ba người giành giải Nobel, 6 người đoạt giải Pulitzer, một thẩm phán Tòa án Tối cao Mỹ, chưa kể đến Jonas Salk, nhà sáng chế vaccine bại liệt. Flom được tuyển vào trường. Ông trải qua hai năm học ca đêm tại Trường City ở khu thượng Manhattan, làm việc quần quật cả ngày để trang trải cuộc sống, đăng ký gia nhập quân đội, hoàn thành nghĩa vụ rồi ứng tuyển vào Trường Luật Harvard.

"Tôi đã ước mơ được vào ngành luật từ hồi mới sáu tuổi", Flom nói. Chưa có một tấm bằng nào trong bảng thành tích nhưng trường Harvard vẫn đồng ý nhận ông. "Tại sao ư? Tôi đã viết cho họ một bức thư thuyết phục họ rằng tôi chính là câu trả lời tuyệt hảo". Cách Flom giải thích sự việc, với lối nói vắn tắt đặc trưng đã thuyết phục được Harvard nhận ông vào học, đó là thời điểm cuối những năm 1940. Học tại trường, ông chẳng bao giờ ghi chép. "Năm thứ nhất, chúng tôi thường áp dụng một phương pháp học bằng cách ghi chép cẩn thận về tình huống trên lớp, tóm tắt lại, rồi ghi lần nữa vào mẩu giấy, dán lên trên đầu mỗi hồ sơ ", Charles Harr - một bạn cùng lớp với Flom đã nhớ lại. "Đó là cách chúng tôi học về các vụ xử án. Nhưng Joe thì không. Anh ấy chẳng làm gì cả. Ở anh ấy có một phẩm chất mà chúng tôi luôn nghĩ và xếp vào nhóm "tư duy như luật sư'. Anh ấy có năng lực phán xử tuyệt vời".

Flom được vinh danh trong tạp chí Law Review - một vinh dự dành cho sinh viên đứng đầu lớp. Trong dịp nghỉ lễ Giáng sinh hồi năm thứ hai, suốt "mùa tuyển dụng", Flom đến New York để dự phỏng vấn với những hãng luật lớn thời đó. "Tôi là một thằng bé béo bệu lóng ngóng, vụng về. Tôi không thấy thoải mái lắm", Flom nhớ lại. "Đến cuối mùa tuyển dụng, tôi là một trong hai đứa còn lại của lớp không kiếm nổi một công việc. Thế rồi một ngày kia, một trong số các giảng viên nói rằng có mấy người đang khởi sự một hãng luật. Tôi gặp họ và trong suốt buổi gặp, họ nói cho tôi nghe về những mạo hiểm của việc chung tay góp sức với một hãng luật vô danh, chưa có lấy nổi một khách hàng. Họ càng nói, tôi càng thích họ hơn. Thế nên tôi bảo ngay: thì sao chứ, tôi muốn nhận cơ hội này. Tất cả gom góp lại với nhau được ba nghìn sáu trăm đôla một năm, đó cũng là mức lương khởi điểm". Ban đầu, chỉ có Marshall Skadden và Leslie Arps - cả hai đều bị một hãng luật quan trọng tại Phố Wall từ chối và John Slate, vốn làm việc ở hãng hàng không Pan Am. Flom là cộng sự của họ. Họ có một văn phòng nhỏ xíu trên tầng chóp của tòa nhà Lehman Brothers ở Phố Wall. "Chúng ta chuyên về lĩnh vực luật nào?", Flom nói rồi cười vang. "Bất cứ vụ nào đến tay”.

Đến năm 1954, Flom đảm nhận vị trí quản lý cho Skadden, và hãng luật của họ bắt đầu phát triển mạnh. Rất nhanh chóng, công ty có một trăm luật sư. Rồi hai trăm. Khi đạt tới con số ba trăm, một trong số các cộng sự của Flom - Morris Kramer đến gặp Flom và bày tỏ rằng ông cảm thấy rất tội lỗi vì đã tuyển vào những người trẻ tuổi mới tốt nghiệp từ trường luật. Hãng Skadden phát triển quá mạnh, Kramer nói, đến mức khó lòng tưởng tượng nổi công ty sẽ phát triển hơn như thế để có thể đề bạt bất cứ ai trong số những nhân viên ấy. Flom nói với Kramer, "Có sao đâu, chúng ta sẽ tăng lên thành một nghìn nhân viên", Flom chẳng bao giờ thôi tham vọng.

Ngày nay hãng Skadden, Arps đó đã trở thành một trong những hãng luật lớn và quyền lực nhất thế giới, có gần 2.000 luật sư tại hai mươi ba văn phòng trên khắp thế giới, và thu về hơn 1 tỷ đô la mỗi năm. Trong văn phòng của mình, Flom trưng ảnh ông chụp với tổng thống George Bush (cha) và Bill Clinton. Ông sống trong căn hộ rộng thênh thang thuộc một tòa nhà xa hoa ở khu thượng Manhattan. Trong suốt gần 30 năm, nếu một công ty nào đó nằm trong danh sách Fortune 500 sắp bị thôn tính hay đang định thôn tính ai đó, hoặc đơn giản là một nhân vật tai to mặt lớn trong lĩnh vực nào đó gặp rắc rối, Joseph Flom ắt hẳn phải là luật sư còn Skadden, Arps là hãng luật đại diện cho họ - nếu không phải thế, công ty đó chắc hẳn phải ước giá mà được Skadden, Arps bảo vệ.

Tôi hy vọng bây giờ bạn đang hoài nghi về kiểu câu chuyện thế này. Một đứa trẻ nguồn gốc nhập cư thông minh vượt qua đói nghèo và Đại khủng hoảng, không thể tìm nổi một công việc tại những hãng luật cổ hủ hẹp hòi nơi thành thị, tự làm nên nghiệp lớn dựa vào cạnh tranh và năng lực thực sự. Đó là một câu chuyện từ khốn khó đi lên giàu sang, và tất cả những gì chúng ta học được cho đến lúc này từ các tuyển thủ khúc côn cầu, các tỷ phú phần mềm đều gợi ra một điều: Thành công không diễn ra theo cách đó. Những người thành đạt không làm nên mọi thứ một mình. Việc họ xuất thân từ đâu là rất quan trọng. Họ không phải là sản phẩm của những nơi chốn và môi trường riêng biệt nào đó.

Không nói thêm gì nữa về trí thông minh, tính cách hay tham vọng của Joe Flom, mặc dù hiển nhiên là ông có thừa ba yếu tố này. Không cần thêm bất cứ lời khen ngợi nào từ các khách hàng về tài năng thiên bẩm của Flom. Không thêm bất cứ câu chuyện màu mè nào về cái sự nổi như cồn của hãng Skadden, Arps, Slate, Meagher & Flom.

(Trích cuốn "Những kẻ xuất chúng" do Công ty Alpha Books 

phát hành)

Loading mentions Retweet
Filed under  //   book   kncs   law  

Comments [0]

MỐI QUAN HỆ GIỮA HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

THS. NGUYỄN TUẤN ANH

Ngân hàng thương mại (NHTM) là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng. Nếu xét trên phương diện những loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp thì ngân hàng được hiểu là: những tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Từ vai trò ngày càng quan trọng của dịch vụ ngân hàng, ngân hàng đã được coi là bà đỡ của nền kinh tế. Bài viết này tập trung phân tích một số tác động hoạt động của hệ thống NHTM đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong mấy năm qua và đề xuất một số các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM tới nền kinh tế.

Khái quát về tăng trưởng kinh tế và tác động của NHTM đến tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế được hiểu là sự gia tăng GDP của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, thường là trong 01 năm. Sự gia tăng này được đánh giá trên hai góc độ: số tuyệt đối và số tương đối. Xét trên góc độ số tuyệt đối, tăng trưởng kinh tế được phản ánh thông qua quy mô GDP tăng thêm. Về số tương đối, tốc độ tăng GDP cho thấy tăng trưởng kinh tế là nhanh hay chậm. Tăng trưởng kinh tế thường chịu ảnh hưởng của các nhân tố:

- Các nhân tố định lượng: bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến tổng cầu (AD) như: chi cho tiêu dùng (C), chi đầu tư (I), chi tiêu của Chính phủ (G) và chi qua hoạt động xuất nhập khẩu (NX); cũng như các nhân tố làm biến động tổng cung (AS) gồm: vốn (K), lao động (L), tài nguyên (R), khoa học – công nghệ (T).

- Các nhân tố định tính: thể chế kinh tế – chính trị, đặc điểm văn hóa – xã hội, đặc điểm tôn giáo, địa vị các thành viên trong cộng đồng và khả năng tham gia của họ vào quản lý phát triển đất nước.Như vậy, hoạt động của hệ thống NHTM tác động tới tăng trưởng kinh tế thông qua cung ứng vốn (K) và được thể hiện qua các yếu tố sau:

(1) Khuyến khích tiết kiệm, góp phần hình thành và hỗ trợ các dòng vốn luân chuyển.

Trong nền kinh tế luôn xuất hiện những chủ thể ở tình trạng thặng dư tạm thời. Họ có nhu cầu đầu tư để bảo toàn vốn và sinh lời. Tuy vậy, không phải ai cũng có cơ hội thực hiện điều đó. Các NHTM huy động những khoản vốn này dưới nhiều hình thức: nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, tích tụ chúng và cho vay lại nền kinh tế. Như vậy, thay vì bị rút khỏi lưu thông, tồn tại dưới dạng cất trữ, tiền được chuyển thành vốn đầu tư, sinh lời. Thông qua hệ thống NHTM, các dòng vốn được hình thành và luân chuyển một cách dễ dàng, thông suốt hơn trong nền kinh tế. Một số bộ phận của các dòng vốn này có liên quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, như các khoản đầu tư vào sự phát triển cơ sở hạ tầng, nhưng hầu hết các bộ phận khác chỉ đơn thuần làm tăng nguồn lực vốn trong quan hệ với lợi tức tài chính của các khoản đầu tư, cả trong các khoản đầu tư nợ lẫn đầu tư vốn chủ sở hữu.

(2) Phân bổ vốn hữu hiệu giữa các ngành, các lĩnh vực.

NHTM về bản chất là các doanh nghiệp, kinh doanh vì mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu. Họ phải lựa chọn những doanh nghiệp hay dự án có khả năng thu hồi nợ, có hiệu quả để cho vay. Nhờ quá trình sàng lọc tín dụng, vốn trong nền kinh tế được tập trung vào những khu vực có khả năng sinh lời cao, mang lại nhiều lợi ích. Những lĩnh vực hay ngành nghề kém hiệu quả sẽ không nhận được vốn. Nhờ các trung gian tài chính này, vốn được phân bổ hữu hiệu giữa các ngành, các lĩnh vực.

(3) Giảm chi phí, tối thiểu hóa rủi ro.

Việc chuyển dịch vốn diễn ra trực tiếp giữa các chủ thể thặng dư và thiếu hụt vốn đòi hỏi phải tiêu tốn rất nhiều chi phí của cả hai bên: thu thập và xử lý thông tin, chi phí về thời gian, trong nhiều trường hợp, các nhu cầu này không thể tương thích và giao dịch không thể diễn ra. Xét đến cùng, những chi phí phát sinh như vậy gây thiệt hại cho toàn bộ nền kinh tế vì làm lãng phí, tổn thất nguồn lực. Các NHTM với tư cách là những tổ chức trung gian tài chính, có thể giảm thiểu tới mức thấp nhất những chi phí này. NHTM thu thập và nắm giữ thông tin về một lượng lớn người có nhu cầu về vốn cũng như những người khác sẵn sàng cung ứng vốn. Cũng do được chuyên môn hóa, NHTM có các nghiệp vụ kỹ thuật để san sẻ và phân tán rủi ro. Họ có khả năng thu thập được lượng lớn thông tin liên quan đến số lượng đông đảo các đối tượng khác nhau, có thể giảm sát các khoản tín dụng, giảm các nguy cơ về rủi ro đạo đức cũng như thông tin không cân xứng.

(4) Hỗ trợ đổi mới công nghệ nâng cao hiệu quả sản xuất.

NHTM ảnh hưởng đến tăng trưởng bằng cách làm thay đổi tỷ lệ tiết kiệm và thông qua sự tài trợ vốn cho các doanh nghiệp trong việc mở rộng sản xuất cả về chiều rộng và chiều sâu, mà chủ yếu là đầu tư vào công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Sự biến đổi công nghệ vì vậy chịu sự tác động từ vai trò của các hệ thống tài chính.

(5) Hoạt động của NHTM góp phần nâng cao môi trường kinh doanh, xây dựng văn hóa kinh doanh đối với các doanh nghiệp.

Việc NHTM tham gia sâu vào các hoạt động của nền kinh tế như hoạt động góp vốn, tư vấn… cũng tạo ra những hiệu ứng tích cực cho sự đổi mới phong cách làm việc của những chủ thể này. Bản thân NHTM là những tổ chức hoạt động chuyên nghiệp, với hệ thống công nghệ hiện đại, mạng lưới thông tin rộng khắp. Sự năng động và phong cách chuyên nghiệp, minh bạch của ngành Ngân hàng giúp các tổ chức, cá nhân khác trong nền kinh tế hình thành tác phong công nghiệp chuyên nghiệp và văn hóa kinh doanh.

Hình 1: Mô tả kênh tín dụng ngân hàng

clip_image002

Một số tác động hoạt động của NHTM đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

Từ năm 1988, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã thực hiện những bước đổi mới căn bản khiến cho các NHTM cũng phát triển mạnh và đa dạng với các NHTM quốc doanh, NHTM cổ phần, ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hệ thống ngân hàng đang không ngừng cải thiện và áp dụng công nghệ hiện đại và đã giải quyết được hai vấn đề kinh niên của những năm trước đây: nợ quá hạn trước đây có lúc lên đến từ 15 – 20% thì hiện nay chỉ đang xoay ở mức 3%. Tình trạng thiếu vốn đã được giải quyết bằng nhiều phương thức tăng vốn điều lệ. Các NHTM nhà nước tuy lớn nhưng đang bị cạnh tranh gay gắt từ các NHTM cổ phần trên phương diện về thị phần, công nghệ và các sản phẩm, dịch vụ mới… Hoạt động của các NHTM đã tác động đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trên các lĩnh vực sau:

(1) Huy động vốn của NHTM góp phần tăng tiết kiệm của nền kinh tế.

Sự phát triển của các sản phẩm tiết kiệm linh hoạt mà các NHTM đã và đang triển khai đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc tăng tiết kiệm của dân cư. Từ những năm 90, lượng vốn huy động qua hệ thống NHTM tăng trưởng không ngừng với tốc độ nhanh và vững chắc. Do sự ổn định giá trị đồng Việt Nam cùng với việc giảm mức lạm phát từ phi mã xuống còn 1 con số, các NHTM Việt Nam đã phát huy được hiệu quả trong chiến lược huy động vốn từ dân chúng. Lượng vốn huy động của toàn hệ thống qua các năm đều tăng với mức trung bình từ 25-30%/năm.

Biểu 1: Tình hình huy động vốn của các NHTM từ năm 2005 đến nay

clip_image004

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước)

Từ năm 2008, tình hình huy động vốn của các NHTM giảm sút rõ rệt; theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng tháng 4/2009 tăng khoảng 3,74% so với cuối tháng trước và tăng 9,88% so với cuối năm 2008; đến hết tháng 7 tăng 20,92% so với đầu năm. Nguyên nhân là do trong năm 2008, lạm phát cao bùng phát và năm 2009, Việt Nam đã có những dấu hiệu rõ rệt về suy giảm kinh tế do tác động của suy giảm kinh tế toàn cầu.

(2) Các hoạt động tài trợ của ngân hàng giúp cho các doanh nghiệp duy trì ổn định sản xuất, đầu tư công nghệ, thay đổi máy móc, nhờ đó nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế.

Ngoài ra, hoạt động cho vay tiêu dùng góp phần kích thích cầu tiêu dùng, qua đó góp phần tăng trưởng kinh tế.Trong thời gian qua, hoạt động tín dụng của các NHTM đã được mở rộng tới tất cả các thành phần kinh tế, dưới các hình thức cho vay ngày một đa dạng: cho vay vốn lưu động, cho vay vốn cố định, tín dụng thuê mua,… Đặc biệt, việc chuyển hướng mở rộng cho vay tiêu dùng thực sự là một hướng kích cầu có hiệu quả. Thông qua quan hệ tín dụng của các NHTM Nhà nước với các tổ chức tín dụng trong nước thể hiện chủ yếu ở sự biến động của khoản mục cho vay, có thể thấy số lượng giao dịch giữa các tổ chức tín dụng tăng lên liên tục. Mặc dù duy trì được mức tăng trưởng dư nợ trong năm cao song các ngân hàng vẫn kiểm soát được rủi ro ở mức độ an toàn. Tỷ lệ nợ quá hạn luôn được kiềm chế ở mức thấp.

Theo con số được Ngân hàng Nhà nước công bố: “Dư nợ tín dụng năm 2008 ước tăng 21-22% so với cuối năm 2007”. Vốn tín dụng đầu tư vào khu vực dân doanh tăng 35-37%, khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 12-14%, lĩnh vực xuất khẩu tăng 35-37%, khu vực sản xuất tăng 34-36%, khu vực nông nghiệp và nông thôn tăng 30%. Vốn cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác tăng 40-42%. Đến cuối năm 2008, vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống ngân hàng tăng 30% so với cuối năm 2007, tỷ lệ an toàn vốn tăng từ 8,9% lên 9,7%.

Kết thúc quý 1/2009, với một loạt giải pháp chống suy giảm kinh tế của Chính phủ, trong đó có nới lỏng dần chính sách tiền tệ, dư nợ tín dụng chỉ tăng vỏn vẹn 2,67% so với cuối năm 2008. Tuy nhiên, đến hết tháng 7/2009, mọi chuyện đã đảo ngược khi nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế từ các tổ chức tín dụng tăng khá, lên tới gần 20% so với cuối năm 2008. Theo số liệu được Ngân hàng Nhà nước công bố, nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế thông qua các tổ chức tín dụng tăng khoảng trên 24% so với cuối năm 2008, cá biệt một số tổ chức tín dụng còn trên 50%.

Biểu 2: Tình hình hoạt động tín dụng của các NHTM giai đoạn 2004 – 2009

clip_image006

Nguồn: NHNN

(3) Sự đóng góp của hoạt động các NHTM đến tổng thu nhập kinh tế quốc dân.

Ngoài việc tăng trưởng mạnh các hoạt động huy động và cho vay, các hoạt động có thu khác của NHTM cũng ngày càng được quan tâm và phát triển. Đây là xu hướng của các NHTM ở các nước phát triển. Đặc biệt khi các hoạt động cho vay và huy động vốn rất nhạy cảm với tình hình kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế, các hoạt động khác chính là “phao cứu sinh” cho các NHTM, cụ thể là:

Trong năm 2008, trước tình hình hạn chế tăng trưởng tín dụng từ chính sách thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng đã tính đến các biện pháp khác để thu hút khách hàng, cải thiện cơ cấu thu nhập. Biện pháp đầu tiên các NHTM đưa ra là nâng cấp, phát triển dịch vụ, chính vì vậy, hoạt động dịch vụ trong năm 2008 tăng trưởng cao, tăng 67% so với năm trước. Trong đó, tăng nhiều nhất là thanh toán trong nước, tăng 72%. Qua đó, kéo theo tổng thu tiền mặt qua quỹ Ngân hàng Nhà nước trong năm 2008 tăng 76%.

Biểu 3: Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng trưởng dịch vụ tài chính, tín dụng các năm

clip_image008

Nguồn: NHNN

Theo biểu 3, ta thấy rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế chung và dịch vụ tài chính, tín dụng có mối quan hệ rất chặt chẽ, đặc biệt là từ năm 2000 đến nay. Các NHTM vẫn là những tổ chức trung gian tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính và tín dụng lớn nhất ở Việt Nam. Như vậy, cả lý thuyết và thực tế đều cho thấy rõ tác động của hoạt động NHTM đến tăng trưởng kinh tế có vị trí quan trọng hàng đầu.

(4) Tác động của hệ thống thanh toán qua ngân hàng đến tăng trưởng kinh tế.

Hoạt động thanh toán đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo các hoạt động kinh tế diễn ra một cách liên tục. Các yêu cầu của một hệ thống thanh toán, đó là: an toàn, nhanh chóng, thuận tiện.

Sự phát triển của các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt đã góp phần giảm tỉ lệ thanh toán bằng tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, trong năm 2008, dịch vụ thẻ ngân hàng và mở tài khoản cá nhân, trả lương qua dịch vụ ngân hàng tự động ATM phát triển nhanh chóng. Đến nay, toàn hệ thống ngân hàng có khoảng 15 triệu tài khoản cá nhân, tăng 36% so với cuối năm 2007; số lượng thẻ trong lưu thông đạt khoảng 13,4 triệu thẻ, tăng 46% so với cuối năm 2007 với 142 thương hiệu thẻ thuộc 39 tổ chức phát hành thẻ. Hệ thống ATM có 7.051 máy, tăng 2.238 máy so với cuối năm 2007. Mạng lưới chấp nhận các phương tiện thanh toán đạt 24.760 thiết bị POS. Các hệ thống thanh toán của ngành Ngân hàng tiếp tục được ứng dụng công nghệ hiện đại hoá, tiên tiến theo hướng tự động hoá, mở rộng dịch vụ, phạm vi áp dụng và tăng nhanh tốc độ xử lý.

(5) Hệ thống NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, từ đó tác động đến nền kinh tế.

Từ cuối năm 2008, Chính phủ bắt đầu thực hiện gói kích cầu nền kinh tế, trong đó các biện pháp tài chính, tiền tệ là chủ đạo. Các biện pháp tiền tệ gồm:

Giảm lãi suất cơ bản: Tính từ ngày 21/10 cho đến hết năm 2008, Ngân hàng Nhà nước đã 5 lần giảm lãi suất cơ bản, khiến lãi suất cơ bản đã giảm mạnh từ mức đỉnh 14%/năm (ngày 11/6) xuống còn 8,5%/năm.

Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc: tính đến hết tháng 6/2009, Ngân hàng Nhà nước đã 5 lần giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc cũng có 2 lần điều chỉnh giảm.

Hỗ trợ lãi suất vay vốn nói chung: hỗ trợ 4% lãi suất cho vay ngắn hạn (thời hạn giải ngân khoản vay tính từ ngày 1/2/2008 đến ngày 31/12/2008) và hỗ trợ 4% lãi suất cho vay trung hạn (thời hạn giải ngân khoản vay tính từ ngày 1/4/2009 đến ngày 31/12/2011). Quy mô gói hỗ trợ lãi suất trị giá 1 tỷ đô la Mỹ, tương đương với tổng cung tín dụng khoảng 496.362 tỷ đồng.

Bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của NHTM: Ngân hàng Phát triển Việt Nam đứng ra bảo lãnh cho các doanh nghiệp có vốn điều lệ tối đa 20 tỷ đồng và sử dụng tối đa 500 lao động, trừ một số lĩnh vực kinh doanh bất động sản, chứng khoán hay đảo nợ.

Xử lý nợ quá hạn: Không phạt nợ quá hạn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn. Các NHTM thực hiện việc cơ cấu lại thời hạn nợ và áp dụng các giải pháp xử lý nợ vay vốn ngân hàng phù hợp với quy định của pháp luật đối với các hộ nông dân bị thiệt hại do thiên tai và các doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm.

Như vậy, nhiều biện pháp mà nhà nước áp dụng chỉ có thể phát huy hiệu quả thông qua hoạt động của các NHTM. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của các NHTM trong chính sách kích thích tăng trưởng kinh tế.

Một số hạn chế của hệ thống NHTM Việt Nam

Thách thức lớn nhất đối với các NHTM Việt Nam nằm ở nội lực của chính các ngân hàng, với quy mô vốn nhỏ, nguồn nhân lực hạn chế, trình độ công nghệ còn có khoảng cách so với các nước trong khu vực. Mức vốn tự có trung bình của một NHTM Nhà nước là 4.200 tỷ đồng, tổng mức vốn tự có của các NHTM Nhà nước chỉ tương đương với một ngân hàng cỡ trung bình trong khu vực. Hệ thống NHTM Nhà nước chiếm đến trên 65% thị phần huy động vốn đầu vào và trên 63% thị phần cho vay. Trong khi đó, hệ số an toàn vốn bình quân của các NHTM Nhà nước của Việt Nam thấp (dưới 5%), chưa đạt tỷ lệ theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước và thông lệ quốc tế (8%). Chất lượng và hiệu quả sử dụng tài sản có thấp (dưới 1%), lại phải đối phó với rủi ro lệch kép là rủi ro kỳ hạn và rủi ro tỷ giá.

Điểm hạn chế thứ hai của các NHTM trong nước là hệ thống dịch vụ còn đơn điệu, chất lượng chưa cao, chưa định hướng theo nhu cầu khách hàng và nặng về dịch vụ ngân hàng truyền thống. Các ngân hàng huy động vốn chủ yếu dưới dạng tiền gửi chiếm 94% tổng nguồn vốn huy động và cấp tín dụng là hoạt động chủ yếu của ngân hàng, chiếm trên 80% tổng thu nhập. Do không thể đa dạng hóa các loại hình dịch vụ ngân hàng đã khiến các NHTM Việt Nam chủ yếu dựa vào công cụ lãi suất để cạnh tranh thu hút khách hàng. Tình hình nợ xấu vẫn có xu hướng giảm nhưng chưa chắc chắn, trong đó đáng chú ý là NHTM Nhà nước. Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ quá hạn gia tăng tại các NHTM Nhà nước là do: việc cho vay chủ yếu dựa vào tài sản đảm bảo, trong khi thị trường bất động sản và thị trường hàng hóa chưa phát triển và còn nhiều biến động phức tạp.

Điểm hạn chế thứ ba xuất phát từ đặc điểm của thị trường tài chính nước ta. Cơ cấu hệ thống tài chính còn mất cân đối. Hệ thống ngân hàng vẫn là kênh cung cấp vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế chủ yếu. Tính chung cả nội tệ và ngoại tệ, thì số vốn vay huy động ngắn hạn chuyển cho vay trung và dài hạn chiếm tới khoảng 50% tổng số vốn huy động ngắn hạn.

Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của NHTM đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Để tăng cường hơn nữa tác động hoạt động của hệ thống NHTM đến quá trình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam cần thực hiện một số giải pháp sau đây:

Phát huy vai trò chủ lực của NHTM Nhà nước

Ở Việt Nam, hiện các NHTM Nhà nước đang trong quá trình cổ phần hóa, song vai trò chủ lực vẫn luôn được khẳng định. Nhiệm vụ đặt ra cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, nhất là những NHTM Nhà nước đóng vai trò chủ lực trong nền kinh tế nhiều thách thức to lớn, đó là vừa phải duy trì tăng trưởng tín dụng và đầu tư nhưng vẫn phải bảo đảm duy trì và nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế tối đa rủi ro trước các biến động liên tục của thị trường hàng hóa, lãi suất, tỷ giá…Để phát huy được vai trò chủ đạo trong hoạt động của hệ thống NHTM, các NHTM Nhà nước cần hoạt động kinh doanh đa năng với chất lượng dịch vụ cao; năng lực tài chính lành mạnh; trình độ công nghệ, nguồn nhân lực và quản trị ngân hàng đạt mức tiên tiến theo các thông lệ chuẩn mực quốc tế.

Tăng cường hoạt động quản trị nội bộ của các ngân hàng

Để tăng cường vai trò của các NHTM trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước. Trước hết, bản thân các ngân hàng cần lành mạnh hoá hoạt động của chính bản thân mình. Trong đó, quan trọng nhất là kiểm toán nội bộ ngân hàng. Yêu cầu hội nhập WTO, sự phát triển nhanh chóng của thị trường chứng khoán cũng như các vấn đề trong quản trị cho thấy sự cần thiết của kiểm toán nội bộ ở doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng.

Trước những yêu cầu cấp bách, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định số 37/2006/QĐ-NHNN, ngày 1/8/2006, yêu cầu các NHTM phải thành lập bộ phận kiểm toán nội bộ. Tuy nhiên, hiện nay có một số khó khăn khi tiến hành việc kiểm toán nội bộ: sự chồng chéo về vai trò và trách nhiệm của chức năng kiểm tra, kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ; chất lượng và số lượng đội ngũ kiểm toán viên nội bộ chưa ở mức mong muốn; kiểm toán nội bộ chưa tạo được tín nhiệm đối với các bên chính có lợi ích liên quan…

Tăng cường hoạt động quản lý rủi ro ngân hàng

Cũng như các doanh nghiệp khác, trong quá trình hoạt động của mình, ngân hàng cũng phải đối mặt với các rủi ro: rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng… Những rủi ro của NHTM ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động chung của nền kinh tế. Do vậy, việc quản lý rủi ro ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc ổn định hoạt động ngân hàng, tránh các rủi ro, qua đó tác động tích cực đến nền kinh tế. Thực tế thời gian vừa qua, mặc dù bị tác động lớn của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhưng có vẻ như chưa có nhiều ngân hàng có ý định thay đổi cơ bản cơ cấu quản lý rủi ro của họ. Cần tiếp cận với các thông lệ quốc tế (Basel) để nâng cao năng lực quản trị rủi ro (ban hành các quy định, quy trình quản lý rủi ro, từ nhận diện, phân tích, đánh giá, quản lý và xử lý). Song song với việc này là khẩn trương hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động kiểm soát, kiểm toán nội bộ, nâng cao hiệu quả của hoạt động này.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của ngành Ngân hàng

Nâng cao năng lực nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay trở thành một vấn đề cấp bách, nhất là yêu cầu của sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Yêu cầu nâng cao năng lực nguồn nhân lực trở thành yêu cầu của tất các các ngành kinh tế nói chung và ngành Ngân hàng nói riêng.Nếu chỉ cải thiện và nâng cao vấn đề công nghệ ngân hàng mà không chú ý tới vấn đề nguồn nhân lực thì hệ thống ngân hàng không thể phát triển được. Do vậy, cần có chiến lược phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng một cách hợp lý: Tiến hành đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực, có chính sách khen thưởng/kỷ luật hợp lý…

Hoàn thiện hành lang pháp lý cho sự phát triển ngành Ngân hàng

Sau một thời gian gia nhập WTO, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có bước chuyển biến rõ rệt theo hướng tạo ra một thị trường mở cửa và có tính cạnh tranh cao hơn, thúc đẩy khu vực dịch vụ ngân hàng tăng trưởng cả về quy mô và loại hình hoạt động, thích ứng nhanh hơn với những tác động từ bên ngoài. Từ đó có khả năng đóng góp nhiều hơn và chủ động hơn vào sự phát triển chung của nền kinh tế. Tất nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra khá nhiều thách thức cho hệ thống ngân hàng, cần phải được nhận diện đầy đủ và có những giải pháp phù hợp. Việc tạo hành lang pháp lý thuận lợi là yêu cầu cần thiết để phát triển ngành Ngân hàng. Để làm được điều đó, cần hoàn thiện các quy định có liên quan của pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, tiếp tục đổi mới và hoàn thiện các vấn đề liên quan đến điều hành chính sách tiền tệ (chú trọng lãi suất, tỉ giá, thị trường mở…), hoạt động thanh tra giám sát (chuyển từ thanh tra tuân thủ sang thanh tra trên cơ sở rủi ro theo các quy định của Basel), quản lý rủi ro của NHTM, việc quản lý và cấp phép thành lập ngân hàng mới…

Tài liệu tham khảo:

1. NHTM, PGS.TS Phan Thu Hà, Nxb Thống Kê, Hà Nội.

2. Giáo trình kinh tế phát triển, GS.TS.Vũ Thị Ngọc Phùng, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội.

3. Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, David Cox.

4. Các Tạp chí Ngân hàng, Tạp chí Khoa học Đào tạ o Ngân hàng, …

5. Niên giám thống kê 2005-2008.

NGUỒN: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG, SỐ 18/2009

Loading mentions Retweet
Filed under  //   Chinh sach cong   To chuc tin dung  

Comments [0]

Chinese Solar: How Chinese innovation is going to revolutionize solar power for the rest of the world

Residents of the city of Rizhao claim to be the first Chinese to greet the sun each day as it rises from the Yellow Sea. In fact, the city’s name is a condensed form of the Chinese phrase ri qu shien zhao, which literally means “first to get sunshine.” They also make some of the best use of the more than 100 kilowatt-hours of power the sun pours down on each square meter of Earth over the course of a sunny day.

Though Rizhao’s 3 million residents are seemingly overshadowed by nearby Qingdao—a larger city famous worldwide for its eponymous beer (you might know it as Tsingtao)—Rizhao boasts perhaps a bigger distinction: It is the first city in all of China to pledge to become carbon-neutral.

That China has surpassed the United States to become the leading emitter of greenhouse gases is no secret. The Chinese curse on the climate will have to be reckoned with, but the Chinese also have a gift to give the world: developing cheap renewable energy sources, particularly solar power. Low-cost manufacturing in China is transforming the entire array of clean energy sources, like previously expensive photovoltaic cells—and, in the process, helping to clean up the world’s energy supply.

Witness Rizhao. Rooftops in newly constructed apartment blocks as well as on the houses in the surrounding countryside are often covered in angled panels of dark tubing. The tubes soak up sunlight, using its warmth to heat water within and eliminate the need to burn fossil fuel or suck up electricity for that purpose. Such solar hot-water heaters are mandatory, and are responsible (along with all the city’s other solar efforts) for cutting energy use compared to alternatives by 348 million kilowatt-hours per year—cutting greenhouse gases at the same time. That’s enough electricity to power more than 30,000 U.S. homes for a year.

Indeed, China has become the world’s largest market for and producer of such solar hot-water devices, which have become cheaper than traditional electric or gas-fired varieties thanks to this growing demand. Companies like Himin Solar Energy Group churn out solar hot-water heaters from factories big enough to build jumbo jets; China as a whole installed 246 million square feet of solar hot-water-heater panels in 2007.

And it’s not just hot water that Rizhao gets from the sun, as evidenced by the gleaming arrays of blue-black photovoltaic cells beneath the lampposts lining the seashore of this resort town.

Rizhao has company in its use of  the sun. In Jiangsu Province outside Shanghai lies China’s “Solar Valley,” which took its name from our own Silicon Valley, and which focuses on the same element. After all, silicon, a semiconductor, is an important component of both computer chips and solar cells.

Suntech, a photovoltaic company with the world’s largest production capacity and JA Solar both have facilities in Jiangsu; globally, Suntech can churn out enough panels in a year to produce—under ideal conditions—1 gigawatt of energy.

Suntech alone has given China—and the world—its first solar billionaire: Shi Zhengrong, who has built the company into a solar powerhouse since its founding, in 2001. And  unlike competitors such as Q-Cells, from Germany; Sharp, from Japan; and the U.S.-based SunPower; among others, Suntech has opted not to automate its production processes.

“We’ve chosen to rely on labor for the obvious reason of cost: Labor rates are so much lower [in China],” says Steve Chadima, the U.S. spokesman for Suntech. “We can more easily crank up or down our operations depending on market demand.”

And it’s not just workers that come cheap in China: “Glass, aluminum—all those materials are less expensive in China than they are in the U.S. or Europe,” Chadima notes. “All the way around there’s low cost.”

That has led many foreign manufacturers to open operations in China or elsewhere in Asia. Evergreen Solar, for example, a Massachusetts-based company, recently opened a Chinese factory, while panel producer First Solar has built several factories capable of cranking out more than 500 megawatts’ worth of solar cells in Malaysia.

And that means, ultimately, cheap solar power. “It’s very possible to get down to something in the range of one dollar per watt to manufacture a silicon solar panel,” Chadima says, though U.S. panel prices in July were more than $4.50 per watt.

But, as an example, Chadima points to the 30-megawatt system that the power company Austin Energy is building with Suntech PV modules in Texas. Austin Energy expects to charge just 17 cents per kilowatt-hour of electricity. That’s not much more than the roughly 13 cents per kilowatt-hour residential customers paid on average for electricity this past May in that state.

“In the case of solar, China has an advantage in its manufacturing capacity,” says Li Junfeng, the secretary general of the Chinese Renewable Energy Industry Association. “It can produce large quantities of products at a relatively low cost.”

Cheap, in this case, does not mean poor quality. Suntech, for example, is considered one of the top five solar-cell producers in the world in terms of quality and has been used in projects from Germany to the United States.

“Within three to four years, we’ll be talking about the pure economic benefit of photovoltaics.”

Like its international competitors, Suntech offers a range of products, including advanced solar cells; its highly efficient, more expensive Pluto module can turn as much as 19 percent of the sunlight that falls on it into electricity. “In this case, you’ve got essentially a company known as a low-cost leader but, at the same time, introducing some of the highest technology in the world,” notes Bates Marshall of Sixtron, a Canadian company that peddles solar-cell-manufacture technology.

Across the market, however, quality can still be a concern. While some of the finest solar cells in the world come from China, there are a host of smaller companies producing even cheaper, lower-quality cells. “There are three to five name-brand module companies and maybe 160 total module manufacturers,” Marshall adds. There are “a lot of no-name panels coming out of China that have some dubious quality.”

Regardless, as soon as 2011, Marshall predicts, modules could cost as little as $1.40 apiece, which will put them in the same price range as other energy sources. “Within three to four years, we’ll be talking about the pure economic benefit of photovoltaics,” Marshall says.

And that’s just in the United States. “All the solar photovoltaics are for export with a very small share for domestic use,” CREIA’s Li notes of Chinese-made solar panels. But “Chinese companies are being optimistic about the future because the government has set all these targets for carbon-emission reduction.”

Rizhao, for its part, has a host of clean competitors—and that’s a good thing. Dezhou City, also in Shandong Province, boasts Himin’s 200,000-square-foot factory for making solar hot-water heaters as well as other solar-power manufactures. Baoding, a city in Hebei Province, offers solar, wind, and other renewable energy manufacturing. And Wuxi, in Jiangsu, is home to Suntech, among others. The Chinese government, for its part, aims to install 1.8 gigawatts of solar power nationwide by 2020—but expects to more than quadruple that goal on current progress.

Rizhao is one of just four cities worldwide to even attempt so-called carbon neutrality (the others being Arendal, Norway; Vancouver, Canada; and Växjö, Sweden), according to the United Nations Environment Programme.

To reach its goal, Rizhao will have to employ an arsenal of environmental improvements, from a so-called circular economy, in which industrial waste gets cycled back as energy, to harvesting the power offered for free by the city’s 260 days of yearly sunshine.

As a result of these efforts, Rizhao, unlike the rest of China, is using nearly a third less energy while cutting its carbon dioxide emissions by 50 percent.

Solar, it seems, is rising in the east.

Top photo by Derek Brown, lower photo by Rhett A. Butler

via good.is

Loading mentions Retweet
Filed under  //   china   kncs   news  

Comments [0]

Lawyer Fees Cut as Company Counsel Network for Tips (Update1)

 By Cynthia Cotts

Sept. 9 (Bloomberg) -- Steven Weinberger, general counsel of Wisdom Natural Brands, boasted on an online social network last month that he saves money by drafting his own trademark applications before sending to outside lawyers for review.

Paul Escobar, corporate counsel atCumberland Gulf Group of Cos., wrote back saying he, too, sometimes drafts legal documents to establish content and tone before outside counsel get their hands on them.

Cash-strapped in-house attorneys are swapping such ideas and other information on Web sites like those owned by LinkedIn Corp., which connects professionals around the world. Corporate lawyers’ use of social networks -- some invitation-only -- grew about 50 percent in 2009, LexisNexis said after surveying 1,474 attorneys.

“Many lawyers believe that social networks are no more than the playthings of their teenage offspring,” Richard Susskind, the author of numerous books on legal technology, said in an interview. “I disagree. The business-oriented versions will fundamentally change the way law firms are chosen and the way lawyers work with their clients.”

Weinberger’s Gilbert, Arizona-based company makes sweeteners. Escobar’s, based in Framingham, Massachusetts, is a convenience-store chain in the Northeast U.S. The men met on Martindale-Hubbell Connected, operated byLexisNexis, the legal- research provider that is a unit of the London-based publisher Reed Elsevier Plc.

Martindale-Hubbell Connected has 15,000 members and is the biggest online network built for legal professionals, according to LexisNexis.

Most Popular

The most popular social-networking Web site overall is operated by Facebook Inc., based in Palo Alto, California, with 250 million users.

General counsel, under pressure to cut costs, are networking mainly to exchange information with peers, according to LexisNexis. The survey of 764 private-practice, or outside, lawyers and 710 corporate counsel was done in May and June. The top three industries represented were financial services, manufacturing and health care.

“Online networks are a fantastic tool for identifying expertise in the fields in which general counsel are looking to rein in outside counsel,” Eugene Weitz, an in-house attorney at Paris-based Alcatel Lucent, said in an interview. “Experts bubble up who have the ability to show their knowledge online.”

Martindale-Hubbell Connected, started in March, connects users to LinkedIn and provides access to 1 million lawyers in the Martindale.com global directory, said Laxmi Wordham, a LexisNexis vice president.

Law Firms

Law-firm attorneys are joining the sites, too, to drum up business from companies.

The Martindale-Hubbell service’s members include lawyers from 92 of the 100 highest-grossing U.S. law firms and in-house attorneys at about half of the 500 largest companies by revenue. Membership is free for general counsel, Wordham said. Law firms pay for subscriptions.

Online networks help companies cut costs and improve the quality of their legal work, said Paul Lippe, who started the online site Legal OnRamp in 2007 in collaboration with San Jose, California-based Cisco Systems Inc., the largest networking- equipment maker.

Legal OnRamp’s 10,000 members, Lippe said, include Latham & Watkins LLP;Orrick, Herrington & Sutcliffe LLP; the Los Angeles Angels baseball team; and Royal Bank of Canada. Basic membership is free and by invitation only, according to Lippe, who calls his community “very elite” and doesn’t use the term “social network.”

How Nets Work

About 10 percent of the survey respondents belong to a legal online network, LexisNexis said. The networks invite members to create profiles, exchange messages, join group discussions, read blogs and post content.

“Connected is a good place to share street wisdom,” James Wong, U.S. counsel for Chinney Capital Inc., part of a Hong Kong-based private-equity fund, said in an interview.

Escobar said he uses Connected to bounce ideas off other attorneys. Weinberger said he might use Connected to find attorneys if a matter arose in a jurisdiction where his current lawyers don’t work.

Some Legal OnRamp groups are by invitation only, giving in- house counsel a private space to solve problems collectively, Lippe said. Typical discussion subjects include alternative fee structures and how much a particular job should cost.

“It’s the kind of conversation that board members from different companies have about best practices when they meet at a common board meeting,” Lippe said.

Online Cliques

Which network a lawyer uses is matter of taste.

“OnRamp has cliques,” Wong said. “Connected is friendlier.”

For outside lawyers, the networks help increase visibility among peers, according to LexisNexis.

“People like me strongly believe that sites like Legal OnRamp provide an unparalleled chance to learn about my competition, new ideas and basically stay on the radar screen,” Fred Bartlit, a name partner at Bartlit Beck Herman Palenchar & Scott LLP, a litigation boutique in Chicago and Denver, wrote in an e-mail.

And with Connected, Legal OnRamp and others all developing systems by which company lawyers will be able to share evaluations of individual lawyers, it behooves outside counsel to participate in the online dialogue.

Peer Review

“Increasingly the key piece of information a general counsel uses to assess an outside lawyer’s reputation is not the renown of his or her firm, but the review by a trusted peer,” Lippe said, adding that the trend is more accelerated in Silicon Valley than on Wall Street.

About 26 percent of outside lawyers believe that online networks will change the business and practice of law in the next five years, according to LexisNexis. Some expressed concerns about data security and sharing personal information, while others questioned whether online legal networking will be widely adopted.

“This is a universe that has yet to be fully tapped,” Escobar said. “My attitude is you’ve got to embrace it, and if you don’t, you’ll fall behind.”

To contact the reporter on this story: Cynthia Cotts in New York atccotts@bloomberg.net.

Last Updated: September 9, 2009 11:18 EDT

Loading mentions Retweet
Filed under  //   Law Firms   lawyer   Online Cliques   Peer   Review   social network  

Comments [0]

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động sáp nhập, hợp nhất và mua lại trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Mục tiêu các hoạt động sáp nhập, hợp nhất và mua bán lại (M&A) trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng có thể là để tối đa hóa lợi nhuận, đa dạng hóa và giảm rủi ro cho chủ sở hữu, hoặc gia tăng các lợi ích cho các nhà quản trị, cũng như có thể xuất phát từ mục tiêu của chính phủ nhằm tái cơ cấu lại hệ thống trong các cuộc khủng hoảng. Thực tế hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD) ngân hàng và phi ngân hàng tại Việt Nam cho thấy, hoạt động M&A đã từng được thực hiện vào những năm đầu của thập niên 90 của thế kỉ XX sau cuộc đổ bể của các hợp tác xã tín dụng (HTXTD). Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO và các thỏa thuận thương mại song phương và đa phương khác thì trong hoạt động M&A có liên quan đến các TCTD cần phải được thực hiện trong một khuôn khổ pháp lý đầy đủ, hoàn thiện và có cơ sở khoa học.

1- THỰC TRẠNG M&A HIỆN NAY TRÊN THẾ GIỚI

Sau bốn năm liên tục gia tăng, FDI toàn cầu đã tăng khoảng 30% trong năm 2007 đạt mức 1.833 tỉ USD. Mặc dù có các cuộc khủng hoảng tài chính và tín dụng bắt đầu vào nửa đầu 2007 nhưng cả ba nhóm nước chính – các nước phát triển, các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi tại Đông Âu và CIS vẫn tiếp tục gia tăng dòng vốn vào. Tuy nhiên, vốn FDI vào các nước phát triển vẫn đạt 1.248 tỉ USD mà chủ yếu là Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Canada và Hà Lan với nguồn vốn chủ yếu đến từ EU (chiếm khoảng 2/3).

Dòng vốn FDI toàn cầu gia tăng mạnh đã có sự đóng góp đáng kể của hoạt động M&A xuyên biên giới. Trong năm 2007, giá trị của các giao dịch M&A đạt 1.637 tỉ USD – cao hơn 21% so với mức kỷ lục trước đó vào năm 2000 (Biểu đồ 1).

Biểu đồ 1: Giá trị các vụ M&A xuyên biên giới giai đoạn 1998 – 2008 (tỉ USD)

clip_image002

Nguồn: UNCTAD (dữ liệu 2008 tính đến tháng 6/2008)

Nhìn chung, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu với khủng hoảng nhà đất dưới chuẩn tại Hoa Kỳ đã không có tác động xấu rõ rệt đến hoạt động M&A trên toàn cầu trong năm 2007. Cuối năm 2007, đã có những vụ M&A lớn với giá trị hàng tỉ USD xảy ra bao gồm vụ tập đoàn Royal Bank for Scotland, Fortis và Santander mua lại ABN-AMRO Holding NV với giá 98 tỉ USD đã làm cho hoạt động M&A xuyên quốc gia đạt mức kỷ lục (Bảng 1) với số lượng các vụ M&A vào năm 2007 đạt 10.145 trường hợp (chỉ tính những giao dịch có giá trị trên 10% vốn cổ phần). Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng hiện tại đã dẫn đến cuộc khủng hoảng thanh khoản trên các thị trường tiền tệ và thị trường nợ tại nhiều quốc gia phát triển đã làm cho các hoạt động M&A bắt đầu suy giảm trong năm 2008, đặc biệt là các giao dịch LBO (Leverage Buyout) – thường liên quan đến các quỹ đầu tư tư nhân (Private Equity Fund).

Bảng 1 – Các vụ M&A trị giá trên 1 tỉ USD giai đoạn 1987 – 2008

Năm Số vụ Tỉ trọng Giá trị (tỉ USD) Tỉ trọng

clip_image004

Nguồn: UNCTAD (dữ liệu 2008 tính đến tháng 6/2008)

Trong giai đoạn 2005 – 2007, hoạt động M&A xuyên biên giới chủ yếu diễn ra tại các nước phát triển nhưng nhìn chung, chủ yếu vẫn xảy ra tại các ngành dịch vụ và sản xuất với sự giảm sút của khối ngành cơ bản từ 17% vào năm 2005 còn 7% vào năm 2007 (Bảng 2) .

Bảng 2 – M&A xuyên biên giới theo lĩnh vực và theo khối kinh tế (tỉ USD)

clip_image006 Nguồn: UNCTAD

2- HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP, HỢP NHẤT VÀ MUA LẠI TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG

Hiện nay, việc hợp nhất, sáp nhập, mua lại các ngân hàng là hiện tượng phổ biến ở các nước mà điển hình nhất là hệ thống ngân hàng Mỹ. Năm 1985, nước Mỹ có 14.000 ngân hàng thì 10 năm sau chỉ còn 11.500 ngân hàng và trung bình trong thập niên 80 mỗi năm có 355 vụ M&A và thập niên 90 là gần 400 nhưng lý do dẫn đến việc sáp nhập, hợp nhất và mua lại có sự khác nhau nhất định của từng quốc gia.

Sau cuộc khủng hoảng tín dụng nhà đất tại Hoa Kỳ nổ ra vào giữa năm 2007, hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới xảy ra với tốc độ nhanh chưa từng thấy. Tại Hoa Kỳ, từ đầu năm 2009 đến đến 6/6/2009, đã có 37 ngân hàng buộc phải đóng cửa và phải bán tài sản của mình so với 25 ngân hàng bị đóng cửa trong năm 2008. Tính đến hết quý 1/2009, FDIC đã đưa trên 300 ngân hàng Hoa Kỳ vào diện “có vấn đề” so với 252 ngân hàng vào quý 4/2008 – cao hơn 21% so với cùng kỳ năm 2008 và cao nhất trong 15 năm. Trong năm 2009, vụ sụp đổ lớn nhất là ngân hàng Bank United vào ngày 21/5 được giải quyết theo hình thức bán cho các nhà đầu tư tư nhân và vẫn hoạt động với tên gọi cũ.

2.1 Hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng ở các nước phát triển

Các ngân hàng ở những quốc gia này đã phát triển đến mức bão hòa với qui luật lợi nhuận giảm dần nên doanh thu, lợi nhuận cũng giảm do đó chúng đã sáp nhập, hợp nhất và mua lại lẫn nhau nhằm cắt giảm chi phí, mở rộng mạng lưới hoạt động, bổ sung, đa dạng hoá sản phẩm, tăng cường qui mô kinh doanh cũng như lợi thế cạnh tranh đáp ứng với xu thế phát triển của nền kinh tế khu vực hoá và quốc tế hoá.

Ví dụ, tại Mỹ thời gian qua đã có nhiều cuộc sáp nhập do những lý do như: (1) Các ngân hàng Mỹ đã cho vay các nước đang phát triển quá nhiều nên nguy cơ thiếu vốn gia tăng; (2) Sự khác biệt về luật pháp làm cho nguồn dự trữ của hệ thống dự trữ liên bang không lớn; (3) Mạng lưới chi nhánh của các ngân hàng Mỹ không lớn do các hạn chế về mở chi nhánh ở các bang khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung, tùy thuộc vào qui mô của các ngân hàng mà lý do sáp nhập cũng khác nhau.

Đối với các ngân hàng lớn

Lý do quan trọng nhất là cắt giảm chi phí hoạt động và gia tăng qui mô kinh doanh nhờ việc sáp nhập, hợp nhất sẽ tăng vốn huy động, tăng vốn điều lệ và giới hạn cho vay từng khách hàng đơn lẻ. Ngoài ra cũng có thể để đa dạng hoá sản phẩm và dịch vụ kinh doanh, tăng uy tín của ngân hàng hoặc tiết kiệm chi phí thành lập chi nhánh.

Đối với các ngân hàng nhỏ

Các ngân hàng nhỏ sáp nhập, hợp nhất hoặc bán lại cho những ngân hàng lớn vì thiếu vốn điều lệ theo luật hoặc tránh phá sản hoặc để tối đa hoá lợi ích của các cổ đông. Ngoài ra, các ngân hàng nhỏ cũng có thể tiến hành sáp nhập, hợp nhất để thành một ngân hàng lớn hơn.

2.2 Hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng ở các nước đang phát triển

Tại các quốc gia đang phát triển hoặc chuyển đổi, hệ thống ngân hàng hầu như còn rất non trẻ, nên qui mô không lớn, kinh nghiệm kinh doanh chưa nhiều, sản phẩm còn nghèo nàn, luật lệ kinh doanh chưa rõ ràng, đầy đủ nên lý do dẫn đến việc sáp nhập, hợp nhất các ngân hàng ở các nước chủ yếu là do chính phủ muốn sắp xếp, củng cố hệ thống ngân hàng nhằm tăng cường qui mô vốn, an toàn trong kinh doanh ngân hàng như các nước Nga, Bungari, các nước Đông Nam Á sau khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997.

Việt Nam cũng đang tiến hành đồng thời hai cuộc cải cách nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển đó là cải cách các doanh nghiệp nhà nước và cải cách hệ thống ngân hàng với nhiều biện pháp khác nhau. Theo đó, một trong những biện pháp quan trọng là thực hiện việc M&A đối với các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) nhằm hình thành những ngân hàng lớn, đủ sức cạnh tranh trong tương lai khi Việt Nam gia nhập AFTA và WTO, đồng thời tránh sự lập lại của cuộc đổ bể tín dụng vào những năm 1989-1990 (Bảng 3).

Bảng 3: Một số vụ M&A trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam clip_image008 Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

3- KHUÔN KHỔ PHÁP LÝ CHO M&A TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

3.1 Các qui định chung về M&A

Tại Việt Nam, qui định của Nhà nước liên quan đến hoạt động M&A được đề cập đến trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ Luật Dân sự; Luật Cạnh tranh 2004; Luật Doanh nghiệp 2005; Luật Chứng khoán 2006; Luật Đầu tư 2005.

Do chịu sự điều tiết của nhiều văn bản pháp luật khác nhau nên hoạt động M&A vẫn tồn tại những cách hiểu khác nhau:

- Luật Cạnh tranh 2004, hoạt động M&A được xem là hành vi tập trung kinh tế thuộc nhóm các hành vi hạn chế cạnh tranh;

- Luật Doanh nghiệp 2005, hoạt động M&A được xem là hành vi “tổ chức lại doanh nghiệp”;

- Luật Đầu tư 2006 lại xuất phát từ việc phân loại đầu tư trực tiếp (nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư) và đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.

Tuy nhiên, việc M&A có lúc được xem là hoạt động đầu tư trực tiếp (Điều 21) nhưng có khi lại được xem là hoạt động đầu tư gián tiếp (Điều 26). Việc đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức đầu tư gián tiếp phải tuân thủ các qui định pháp luật về ngân hàng, chứng khoán và các qui định khác của pháp luật có liên quan (Điều 76).

Để kiểm soát quá trình M&A nhằm đảm bảo hoạt động này không dẫn đến tình trạng hình thành các doanh nghiệp, tập đoàn đủ lớn có khả năng khống chế thị trường dẫn đến thiệt hại cho người tiêu dùng, các doanh nghiệp khác cũng như Nhà nước, Luật Cạnh tranh 2004 chỉ kiểm soát hoạt động M&A dựa trên cơ sở xem xét qui mô kiểm soát thị trường của doanh nghiệp sau khi thực hiện hoạt động M&A. Cụ thể như sau:

- Đối với các trường hợp trong đó, thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia dưới 30% hoặc trường hợp doanh nghiệp hình thành sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật thì các doanh nghiệp được tiến hành tập trung kinh tế mà không cần phải thực hiện thủ tục thông báo bắt buộc cho Cục Quản lý cạnh tranh (có vốn đăng ký dưới 10 tỉ đồng và dưới 300 lao động – Nghị định số 90/2001/NĐ-CP).- Đối với các trường hợp trong đó, thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia từ 30% đến 50% thì các doanh nghiệp được tiến hành tập trung kinh tê, tuy nhiên, đại diện hợp pháp của các doanh nghiệp đó phải thực hiện thủ tục thông báo cho Cục Quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành tập trung kinh tế theo hồ sơ thông báo tập trung kinh tế do Cục Quản lý cạnh tranh ban hành.

- Đối với các trường hợp trong đó, thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia chiếm trên 50% trên thị trường liên quan và doanh nghiệp hình thành sau hoạt động tập trung kinh tế không thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật (Điều 18, Luật Cạnh tranh) thì không được chấp thuận.

Tuy nhiên, các vụ M&A thuộc diện bị cấm cũng có thể được xem xét và miễn trừ trong hai trường hợp: (i) Một hoặc nhiều bên tham gia hoạt động M&A đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản; hoặc (ii) Việc M&A có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế – xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ (Điều 19, Luật Cạnh tranh).

Áp dụng các qui định của Luật cạnh tranh trong việc xác định thị phần đối với các TCTD nếu muốn tham gia vào hoạt động M&A sẽ được tính toán (Điều 12 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh) như sau :

Doanh thu để xác định thị phần của TCTD được tính bằng tổng các khoản thu nhập sau đây: (1) Thu nhập tiền lãi. (2) Thu nhập phí từ hoạt động dịch vụ. (3) Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối. (4) Thu nhập từ lãi góp vốn, mua cổ phần. (5) Thu nhập từ hoạt động kinh doanh khác. (6) Thu nhập khác.

Trường hợp ngoại lệ, nếu TCTD mua lại doanh nghiệp khác nhằm mục đích bán lại trong thời gian dài nhất là 01 năm sẽ không bị coi là tập trung kinh tế nếu doanh nghiệp mua lại không thực hiện quyền kiểm soát hoặc chi phối doanh nghiệp bị mua lại hoặc thực hiện quyền này chỉ trong khuôn khổ bắt buộc để đạt được mục đích bán lại đó (Điều 35 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP).

3.2 Qui định đặc thù cho hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng

Đối với hoạt động M&A giữa các TCTD Việt Nam

Theo Điều 3 và 19 Quyết định 241/1998/NHNN5 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ký ban hành Qui chế sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD cổ phần Việt Nam có qui định:

- Các TCTD cổ phần đang hoạt động bình thường, nhưng tự nguyện xin sáp nhập, hợp nhất hoặc mua lại TCTD cổ phần khác để thành một TCTD cổ phần có quy mô lớn hơn, hoạt động an toàn hơn và có mức vốn điều lệ lớn hơn.

Các TCTD cổ phần được đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt hoặc không đủ mức vốn điều lệ tối thiểu theo quy định của Nhà nước hoặc hoạt động yếu kém có thể tự nguyện xin sáp nhập, hợp nhất hoặc mua lại theo quy định. Trong trường hợp các TCTD cổ phần này không thể thực hiện theo hình thức tự nguyện và có nguy cơ đổ vỡ, Ngân hàng Nhà nước sẽ quyết định thu hồi giấy phép hoạt động (TCTD cổ phần phải giải thể, nếu có khả năng thanh toán hết nợ hoặc phá sản theo luật định) hoặc bắt buộc TCTD cổ phần phải sáp nhập, hợp nhất hoặc bán lại và chỉ định TCTD khác mua lại. Trường hợp xử lý bắt buộc được thực hiện khi có ý kiến đề nghị của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố liên quan và được Chính phủ chấp thuận.

Đối với nhà đầu tư nước ngoài muốn tham gia M&A với các ngân hàng Việt Nam

Theo Nghị định số 69/2007/NĐ-CP ngày 20/4/ 2007 của Chính phủ về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam: Các nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần của các ngân hàng Việt Nam (ngân hàng thương mại nhà nước được cổ phần hóa và ngân hàng thương mại cổ phần) với một số qui định sau:

- Tỉ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài:

+ Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài (bao gồm cả cổ đông nước ngoài hiện hữu) và người có liên quan của các nhà đầu tư nước ngoài đó không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam.

+ Mức sở hữu cổ phần của một nhà đầu tư nước ngoài không phải là TCTD nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư nước ngoài đó không vượt quá 5% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam.

+ Mức sở hữu cổ phần của một TCTD nước ngoài và người có liên quan của TCTD nước ngoài đó không vượt quá 10% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam.

+ Mức sở hữu cổ phần của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đó không vượt quá 15% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam.

- Điều kiện để ngân hàng Việt Nam bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài:

+ Vốn điều lệ tối thiểu đạt 1.000 tỷ đồng;

+ Có tình hình tài chính lành mạnh, đáp ứng các điều kiện liên quan của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

+ Có bộ máy quản trị, điều hành, hệ thống kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán nội bộ hoạt động có hiệu quả;

+ Không bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt do vi phạm các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng trong thời gian 24 tháng đến thời điểm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét.

- Điều kiện của TCTD nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng Việt Nam:

+ Có tổng tài sản Có tối thiểu tương đương 20 tỷ đô la Mỹ vào năm trước năm đăng ký mua cổ phần.

+ Có kinh nghiệm hoạt động quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng.

+ Được các tổ chức xếp loại tín nhiệm quốc tế xếp hạng ở mức có khả năng thực hiện các cam kết tài chính và hoạt động bình thường ngay cả khi tình hình, điều kiện kinh tế biến đổi theo chiều hướng không thuận lợi.

- Điều kiện của nhà đầu tư nước ngoài khi mua cổ phần của các ngân hàng Việt Nam trên thị trường chứng khoán: Khi ngân hàng Việt Nam niêm yết chứng khoán, nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần của ngân hàng Việt Nam theo các quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán và phải tuân thủ tỷ lệ sở hữu cổ phần quy định như trên.

- Điều kiện tham gia quản trị tại ngân hàng Việt Nam:

+ Một TCTD nước ngoài chỉ được là nhà đầu tư chiến lược tại một ngân hàng Việt Nam.

+ Một TCTD nước ngoài chỉ được tham gia Hội đồng quản trị tại không quá hai ngân hàng Việt Nam.

4- MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT VÀ KIẾN NGHỊ

4.1 Tiêu chí sử dụng để tính toán thị phần của các ngân hàng Việt Nam

Vấn đề cần giải quyết

Theo chúng tôi, qui định hiện hành về cách tính thị phần của TCTD dựa trên doanh thu từ hoạt động bao gồm thu nhập tiền lãi; thu nhập từ hoạt động dịch vụ; thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối; thu nhập từ lãi góp vốn, mua cổ phần và thu nhập từ hoạt động kinh doanh khác là không hợp lý vì:

- Thu nhập của một ngân hàng từ hoạt động của mình không trực tiếp ảnh hưởng đến mức độ cạnh tranh của ngân hàng đó trên thị trường mà chỉ thể hiện tính hiệu quả của hoạt động cung ứng sản phẩm, dịch vụ ra thị trường cùng với năng lực quản lý, điều hành hiệu quả hoạt động kinh doanh và quản lý rủi ro của ngân hàng đó.

- Xuất phát từ bản chất tài chính của sản phẩm, dịch vụ do các ngân hàng cung cấp nên việc sử dụng thu nhập để tính thị phần sẽ không thể hiện được mức độ khống chế về mức độ cung ứng và kiểm soát thị trường trong khi điều này lại là một trong các lý do quan trọng của việc kiểm soát hoạt động M&A nói chung và trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng.

Ngoài ra, trong điều kiện thông tin chưa đủ minh bạch ở thị trường ngân hàng Việt Nam hiện nay, trong trường hợp các ngân hàng Việt Nam muốn tính toán kế hoạch M&A có vi phạm qui định về tập trung kinh tế hay không cũng khó có thể thực hiện được.

Kiến nghị

Theo chúng tôi, khi xác định thị phần để quyết định tỉ lệ tập trung thị trường khi quyết định chấp thuận hay từ chối một vụ M&A nên sử dụng chỉ số cho thấy tốt nhất về năng lực cạnh tranh tương lai của doanh nghiệp. Ví dụ như có thể sử dụng doanh số bán nếu phân biệt các doanh nghiệp chủ yếu bằng sự khác biệt của các sản phẩm, hoặc sử dụng đơn vị hàng hóa tiêu thụ nếu sự phân biệt giữa họ chủ yếu dựa trên lợi thế tương đối của các doanh nghiệp trong việc phục vụ các khách hàng hoặc nhóm khách hàng khác nhau.

Do đó, đối với qui định sử dụng doanh thu để xác định thị phần (Nghị định số 116/2005/NĐ-CP) của các TCTD chưa phản ánh đúng bản chất của sự tập trung trong hoạt động ngân hàng mà nên sử dụng kết hợp các tiêu chí sau:

- Tỉ trọng tiền gửi/tổng tiền gửi của toàn ngành;

- Tỉ trọng tín dụng/tổng tín dụng của toàn ngành;

- Tỉ trọng thu nhập từ lãi suất/tổng thu nhập lãi suất của toàn ngành;

Mặt khác, khi tính toán mức độ tập trung, Việt Nam có thể xem xét sử dụng hệ số HHI để tính toán sẽ có ý nghĩa hơn về mặt thực tiễn thay vì chỉ cộng dồn thị phần của các tổ chức có liên quan mà không xét đến yếu tố trọng số liên quan.

Ngoài ra, khi Ngân hàng Nhà nước và Cục Quản lý cạnh tranh xem xét hoạt động M&A giữa các TCTD có thể sử dụng bất kỳ tiêu chí liên quan đến bất kỳ hoạt động nào của các TCTD nhằm tránh việc dẫn đến sự suy giảm cạnh tranh trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ tài chính ra thị trường dưới mọi góc độ.

4.2 Việc M&A giữa một ngân hàng Việt Nam và một TCTD phi ngân hàng

Vấn đề cần giải quyết

Hiện nay, trong các văn bản pháp luật chưa đề cập đến việc M&A giữa một ngân hàng Việt Nam và một TCTD phi ngân hàng, ví dụ như giữa một ngân hàng Việt Nam (ngân hàng A) và một công ty cho thuê tài chính (công ty B) tại một địa phương cụ thể (tỉnh X) mà nơi đó đã có sự hiện diện của chi nhánh hoặc công ty cho thuê tài chính của chính ngân hàng này và chỉ có họ mà thôi.

Điều cần lưu ý là các TCTD phi ngân hàng cũng cung cấp các dịch vụ tài chính – ngân hàng tương tự như các ngân hàng nhưng không đầy đủ và đa dạng bằng. Do đó, nếu đứng trên phạm vi toàn quốc thì trường hợp xảy ra M&A giữa hai tổ chức nói trên có thể sẽ không vi phạm qui định về tập trung kinh tế theo pháp luật hiện hành.

Như vậy, rõ ràng là sau khi vụ M&A diễn ra thì khách hàng có nhu cầu sử dụng các nghiệp vụ của công ty B chắc chắn sẽ không còn nhận được các sản phẩm, dịch vụ và điều kiện như cũ nữa vì trên địa bàn X chỉ còn duy nhất một đơn vị cung ứng loại sản phẩm, dịch vụ này là ngân hàng A. Điều này có nghĩa là hoạt động M&A giữa ngân hàng A và công ty B diễn ra đã gây phương hại đến hoạt động cạnh tranh tại địa phương X.

Kiến nghị

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động ngân hàng cần ban hành qui định về vấn đề này như sau:

- Các bên có liên quan phải đảm bảo sau khi tiến hành M&A giữa ngân hàng A và công ty B tại địa phương X (như ví dụ ở trên) không được làm xấu đi hiện trạng về việc cung ứng sản phẩm tài chính đang được cung cấp tại địa bàn như về chủng loại sản phẩm, giá cả, điều kiện tiếp cận trừ khi đưa ra những sản phẩm, dịch vụ mới – chưa được cung cấp tại đây;

- Trong trường hợp người sử dụng sản phẩm dịch vụ của công ty B hoặc ngân hàng A tại địa phương X khiếu nại và chứng minh được việc M&A giữa ngân hàng A và công ty B đã dẫn đến thiệt hại của mình thì ngân hàng A và công ty B phải chịu sự xử lý của pháp luật vì đã vi phạm qui định về cạnh tranh.

4.3 Giới hạn về mức độ tập trung trong lĩnh vực ngân hàng

Vấn đề cần giải quyết

Hiện nay, đang tồn tại tình trạng không thống nhất về cơ sở tính toán mức độ tập trung trong lĩnh vực ngân hàng giữa Luật Cạnh tranh và Nghị định số 69/2007/NĐ-CP.

Cụ thể là Luật Cạnh tranh qui định giới hạn mức độ tập trung trong lĩnh vực ngân hàng dựa trên thị phần, trong khi theo Nghị định số 69/2007/NĐ-CP lại qui định giới hạn về mức độ tập trung trong lĩnh vực ngân hàng căn cứ trên vốn điều lệ.

Kiến nghị

Nhằm đảm bảo tính nhất quán trong qui định của pháp luật và tạo điều kiện dễ dàng cho các tổ chức, cá nhân trong nước cũng như nước ngoài tham gia vào hoạt động M&A và việc quản lý hoạt động này đối với các cơ quan có thẩm quyền như Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương, theo chúng tôi, cần sửa đổi qui định trong Nghị định số 69/2007/NĐ-CP theo Luật Cạnh tranh.

4.4 Một số vấn đề khác

Qui định hiện hành của Việt Nam liên quan đến hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng vẫn còn một số vấn đề chưa được qui định liên quan đến một số tình huống sau:

- Hoạt động M&A của TCTD phi ngân hàng nước ngoài và ngân hàng Việt Nam;

- Hoạt động M&A giữa các TCTD Việt Nam không phải là ngân hàng;

- Ngân hàng Việt Nam niêm yết ở nước ngoài;

- TCTD nước ngoài hoặc nhà đầu tư nước ngoài tham gia mua vốn tại hai ngân hàng Việt Nam trở lên;

Do đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần bổ sung thêm các qui định liên quan đến các vấn đề nói trên để hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng có thể được kiểm soát chặt chẽ và đầy đủ hơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Bộ Luật Dân sự 2005;

Luật Doanh nghiệp 2005;

Luật Đầu tư 2005;

Luật Cạnh tranh 2004;

Luật Chứng khoán 2006;

Luật Doanh nghiệp Nhà nước 2003;

WIR 2008 của UNCTAD;

NGUỒN: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 14/2009

Loading mentions Retweet
Filed under  //   to chuc tin dung  

Comments [0]

ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT

Posted on  by civillawinfor

LS. HOÀNG CAO SANG

Cũng như hầu hết pháp luật các nước trên thế giới đều quy định phải có luật sư tham gia bào chữa cho họ. Nghĩa là trong trường hợp này, nếu người bị truy tố không có chi phí để mời luật sư bào chữa, thì toà án có nghĩa vụ gửi danh sách cho đoàn luật sư, đoàn luật sư  thông báo về cho các tổ chức hành nghề luật sư và các tổ chức này chỉ định luật sư bào chữa cho họ, và luật sư được chỉ định có nghĩa vụ tham gia bào chữa cho họ như một thân chủ có thù lao, không phân biệt đối xử.

Tuy nhiên, trong thực tế có những trường hợp gần đến ngày xét xử, thư ký phiên toà mới điện thoại cho luật sư quen nhờ bào chữa cho bị cáo. Vì nể nang và xem thường tính mạng bị cáo, nên nhiều luật sư cũng đã nhận lời.

Thông thường những trong trường hợp này luật sư chỉ cần biết ngày, giờ và địa điểm xét xử. Không cần nghiên cứu hồ sơ và cũng chẳng cần gặp gỡ bị cáo để trao đổi xem bị cáo cần luật sư giúp đỡ về vấn đề gì, có oan sai hay không… Đến giờ xử, luật sư chỉ cần mượn thư ký bản cáo trạng và nếu là phiên toà phúc thẩm thì mượn thêm bản án sơ thẩm để tranh thủ đọc ngay khi toà đang xét xử. Vì không nghiên cứu hồ sơ, không gặp bị cáo trước khi xét xử, nên đến khi ra toà bào chữa việc luật sư không nhớ tên bị cáo của mình bào chữa là chuyện bình thường, có khi lẫn tên bị cáo với tên người bị hại, hoặc không biết cả mặt bị cáo mình bào chữa là ai.

Thay vì bào chữa, luật sư buộc tội thân chủ của mình

Một sinh viên luật năm cuối thực tập tại văn phòng tôi với nụ cười nửa đau xót, nửa khinh bỉ kể với tôi rằng, vì rất ham muốn trở thành luật sư nên cậu ta thường đi dự  phiên toà để học hỏi kinh nghiệm. Có lần, ở toà án Tối cao tại TP.HCM xét xử các bị cáo về tội giết người, cậu ta thấy chủ toạ phiên toà đã tuyên bố khai mạc phiên toà, lúc này một luật sư mới vội vã chạy vào phòng xử trên tay cầm xấp tài liệu rối cắm cúi ngồi đọc. Xem kỹ đó là hai bản án sơ thẩm. Vì là không nghiên cứu hồ sơ trước nên đến phần bào chữa của mình, vị luật sư này đứng lên nói vỏn vẹn có một câu ngắn gọn “tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm buộc tội của vị đại diện Viện Kiểm sát đối với bị cáo”!

 

Tưởng là vụ thứ nhất không có thời gian, chưa xem kỹ hồ sơ nên vị luật sư này bào chữa như thế để dành thời gian cho vụ sau, ai ngờ đến vụ thứ hai vị luật sư này cũng bào chữa như vụ thứ nhất “tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm buộc tội của vị đại diện viện kiểm sát đối với bị cáo”!

Sau khi tìm hiểu, cậu ta mới biết luật sư này là luật sư toà mời “chữa cháy”. Và thư ký phiên toà mới photo cho 02 bản án sơ thẩm ngay trước khi khai mạc phiên toà vài phút.

Thư ký toà lừa luật sư

Cũng ở Toà án Tối cao tại TP.HCM, trong một phiên xử phúc thẩm vụ án giết người, tôi được chỉ định bào chữa cho một bị cáo, còn một bị cáo nữa do luật sư Đ. bào chữa. Sau khi khai mạc phiên toà được một vài phút, vị luật sư này mới lật đật chạy vào tay cầm bản án sơ thẩm và bản cáo trạng vừa thở hổn hển vừa đọc. Đến phần bào chữa cho các bị cáo, vị luật sư này nói với tôi “Anh phát biểu trước, tôi dựa theo ý anh rồi tôi nói theo chứ tôi không nắm rõ vụ việc. Khi nhờ tôi, thư ký nói các bị cáo nhận tội hết rồi, chỉ xin giảm nhẹ thôi, ngờ đâu vụ án lại phức tạp thế này”.

Luật sư chữa cháy, toà xử cho xong

Vào khoảng cuối năm 2004, tôi được chỉ định bào chữa cho bị cáo H.T.M tại phiên  toà phúc thẩm trong vụ án giết người, cướp tài sản. Sau khi nghiên cứu hồ sơ tôi nhận thấy còn nhiều vấn đề mà phiên toà sơ thẩm chưa làm rõ, chứng cứ buộc tội không rõ ràng… nhưng lại chỉ còn hai ngày nữa là đến ngày xét xử, nên tôi đã làm đơn xin hoãn phiên toà để tôi có thời gian nghiên cứu hồ sơ và làm rõ một số vấn đề.

Cứ chắc mẩm rằng đơn đề nghị hoãn phiên toà được chấp nhận, nào ngờ ba ngày sau một tờ báo nọ đưa tin “H.T.M đã bị toà phúc thẩm y án sơ thẩm với hình phạt cao nhất là tử hình”. Sau khi đọc được tin này, tôi đã gọi điện thoại cho luật sư V. là người trực tiếp tham gia bào chữa cho bị cáo H.T.M tại phiên toà hôm đó hỏi tại sao anh làm như vậy, thì vị luật sư này trả lời “Hôm qua tôi bào chữa cho bị cáo trong một vụ án khác, nhưng cùng hội đồng xét xử và cùng ngày với vụ án H.T.M nên toà nhờ tôi bào chữa dùm cho bị cáo H.T.M luôn, để toà xử cho xong!”.

Đạo đức nghề luật!

Khi tham dự các phiên toà, chúng ta thường nghe các vị trong hội đồng xét xử  luôn lớn tiếng quát nạt các bị cáo “…Hành vi của bị cáo như vậy là xem thường tính mạng của người khác nên phải chịu một mức hình phạt nghiêm khắc… Nhưng không biết có ai đó đã một lần tự chất vấn chính bản thân mình để nhận ra rằng mình cũng đã xem thường tính mạng người khác.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ĐOÀN LUẬT SƯ TPHCM

Trích dẫn từ:

http://www.hcmcbar.org/index.php?option=com_contentlist&task=detail&cat=5&id=179

Loading mentions Retweet
Filed under  //   lawyer  

Comments [0]

THUÊ LUẬT SƯ TƯ VẤN: ĐỪNG ĐỂ NƯỚC ĐẾN CHÂN MỚI NHẢY*

Posted on  by civillawinfor

NGUYỄN THỊ BẢO QUỲNH – Chủ tịch – Công ty Giải pháp thông minh INTEL SOLUTION

Theo thống kê cuối năm 2008 thì các công ty tư vấn luật đứng đầu danh sách các doanh nghiệp trả thưởng cho nhân viên cao nhất. Từ giữa năm 2008 đến nay, trong khi phần lớn các doanh nghiệp hoạt động cầm chừng thì các văn phòng luật sư lại rất bận rộn.

Thông thường vào thời điểm kinh tế nhạy cảm (dù là lạm phát cao hay suy thoái), các doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn, vì thế tình trạng tranh chấp có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp càng gia tăng. Tuy nhiên, ở Việt Nam số lượng luật sư còn quá ít không thể đáp ứng nhu cầu (cả nước chỉ có khoảng 5.000 luật sư cho hơn 80 triệu dân và hơn 500.000 doanh nghiệp!).

Do đó, các luật sư hiện nay chủ yếu tham gia tư vấn cho doanh nghiệp khi có vấn đề phát sinh nhiều hơn là tham gia tư vấn xây dựng quy trình hoạt động tránh rủi ro cho doanh nghiệp. Hơn nữa, chính bản thân các doanh nghiệp Việt Nam thường ít quan tâm đến việc nghiên cứu các quy định của pháp luật để áp dụng vào hoạt động thực tiễn, giảm thiểu rủi ro.

Tại Mỹ thì hầu như 100% doanh nghiệp đều có thuê luật sư tư vấn, và không ít các công ty có phòng pháp chế thuộc doanh nghiệp. Tại Việt Nam, qua khảo sát ngẫu nhiên 200 doanh nghiệp từ Bắc chí Nam hoạt động trong các lĩnh vực điển hình, chỉ có các doanh nghiệp nước ngoài nắm cổ phần chi phối và các tổng công ty nhà nước có thành lập phòng pháp chế.

Với các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cổ phần… có 7,5% các doanh nghiệp được hỏi ở phía bắc, 5% các doanh nghiệp được hỏi ở phía nam là có ký hợp đồng tư vấn luật thường xuyên với văn phòng luật sư, theo đó luật sư tham gia soạn thảo các quy định và các mẫu hợp đồng cho công ty.

Chủ doanh nghiệp của khoảng 20% các doanh nghiệp được hỏi ở phía bắc và 25% các doanh nghiệp được hỏi ở phía nam có quan tâm và tự tìm hiểu các pháp luật liên quan trong quá trình xây dựng doanh nghiệp.

Còn lại (khoảng 65-70%) các doanh nghiệp liên hệ với văn phòng luật sư chỉ để tra cứu văn bản pháp luật khi cần thiết, và các doanh nghiệp này chỉ hợp đồng thuê luật sư tham gia tố tụng khi có vụ việc. Các chủ doanh nghiệp này thậm chí không hề có bất kỳ quyển sách luật nào trong tủ sách của doanh nghiệp!

Chính do điều này mà khi có xảy ra tranh chấp thương mại, đầu tư hay lao động… các luật sư chỉ có thể tham gia sau khi “việc đã rồi”, luật sư có giỏi mấy cũng khó cứu doanh nghiệp thoát khỏi thiệt hại nếu việc đã sai từ khâu triển khai. Kết quả khảo sát này có thể làm “giật mình” các nhà hành pháp và tư pháp!

Các chủ doanh nghiệp thường chủ quan, cho rằng việc “vô phúc đáo tụng đình” sẽ hiếm khi hoặc sẽ không xảy ra đối với doanh nghiệp của mình, vì vậy đa số ít quan tâm đến việc tìm hiểu luật. Đây chính là “con thiên nga đen” nguy hiểm, vì một khi sự vụ xảy ra, do không được dự liệu trước nên hậu quả mà nó mang đến sẽ khôn lường!

Khi tình hình kinh doanh khó khăn, tình trạng nợ khó đòi gia tăng, các tranh chấp lao động và tranh chấp phát sinh trong nội bộ hội đồng quản trị doanh nghiệp, hội đồng thành viên ngày càng nhiều. Nếu không có điều kiện thành lập phòng pháp chế, các chủ doanh nghiệp cần quan tâm hơn đến việc tìm hiểu pháp luật để vận dụng vào hoạt động của doanh nghiệp. Để tránh rủi ro cho chính mình, các doanh nghiệp không nên để “nước đến chân mới nhảy”!

Ngay cả một người lái xe khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đều phải có bằng lái xe và phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm Luật Giao thông của mình. Quyết định của doanh nghiệp thường có liên quan đến số đông người bao gồm nhân viên, khách hàng, đối tác, và trong một số trường hợp, đến cả xã hội, như vậy trách nhiệm lèo lái một doanh nghiệp tất nhiên phải nặng nề hơn người lái xe.

Vì vậy việc chủ doanh nghiệp cần tìm hiểu sâu về các luật liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp là điều rất cần thiết. Doanh nghiệp hoạt động đúng pháp luật sẽ vừa giúp được mình, vừa giúp được người. Bản thân doanh nghiệp đó sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí và thời gian giải quyết tranh chấp hợp đồng, tranh chấp lao động… Như vậy, số lượng vụ việc phải giải quyết bằng tố tụng tại tòa án sẽ không phải tăng lên tỷ lệ thuận với mức tăng số lượng doanh nghiệp, tòa án sẽ tránh được tình trạng bị quá tải và chất lượng tố tụng sẽ được cải thiện.

Trong rất nhiều tranh chấp lẽ ra các bên có thể tự giải quyết nếu có hiểu biết cơ bản về pháp luật thì các bên lại mất thời gian đưa nhau ra tòa. Thậm chí có trường hợp một lãnh đạo doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng tại TPHCM tuyên bố hùng hồn “không cần biết luật là gì, miễn tự thấy mình đúng là được”! Những suy nghĩ kiểu như vậy là nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc doanh nghiệp phải tốn quá nhiều thời gian đi giải quyết tranh chấp thay cho việc tập trung phát triển doanh nghiệp để tăng tính cạnh tranh.

Đã có không ít lần lãnh đạo các doanh nghiệp có vốn nhà nước lấy cớ “kém hiểu biết về pháp luật” để xin được giảm nhẹ tội trong các vụ vi phạm kinh tế gây thất thoát tiền của Nhà nước! Vì vậy, nên chăng cần quy định các vị đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (nhất là các doanh nghiệp có vốn nhà nước) làm cam kết tìm hiểu và thực hiện theo pháp luật trước khi nhận giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (cũng giống như người lái xe phải có bằng lái vậy!).

Rất nhiều vụ tranh chấp trong thực tế xuất phát từ việc các bên không nắm vững các quy định của pháp luật. Ví dụ, các thành viên sáng lập công ty TNHH thay vì tự nghiên cứu Luật Doanh nghiệp để soạn thảo điều lệ công ty phù hợp với ý chí của mình, thì lại đi thuê dịch vụ sử dụng điều lệ có sẵn của công ty khác đi đăng ký kinh doanh. Khi có tranh chấp giữa các thành viên góp vốn thì mới đi tìm lại xem điều lệ công ty ghi như thế nào về số thành viên đại diện bao nhiêu phần trăm số vốn điều lệ để thông qua quyết định!

Một số công ty thì tự ý soạn thảo nội quy công ty với các kiểu kỷ luật phạt vạ không phù hợp với quy định của Bộ luật Lao động, đến khi có tranh chấp đình công, Liên đoàn lao động đến làm việc thì mới biết nội quy công ty không soạn thảo đúng theo Bộ luật Lao động.

Các công ty đều tham gia kinh doanh nhưng Luật Thương mại lại ít được tìm hiểu. Có công ty mua thiết bị máy móc nhưng do chưa dùng đến ngay nên không kiểm tra, quá sáu tháng mang ra dùng thì mới biết thiết bị không đạt chất lượng theo yêu cầu hợp đồng, lúc đó đã hết thời hạn khiếu nại theo điều 318 Luật Thương mại.

Cho đến thời điểm này, rất nhiều công ty vẫn còn sử dụng tiêu đề khi ký hợp đồng mua bán “căn cứ Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế” mặc dù Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế đã hết hạn từ ba năm nay! Các doanh nghiệp khi bị rối tung trong mạng nhện thủ tục hành chính, thay vì sử dụng luật khiếu nại tố cáo để tự bảo vệ mình thì do thiếu hiểu biết pháp luật nên phải chọn con đường lòng vòng tốn kém chi phí!

Đây là thời điểm các doanh nghiệp cần tập trung cơ cấu lại doanh nghiệp, đối phó với khủng hoảng. Việc tìm hiểu các luật liên quan để áp dụng vào quá trình cơ cấu lại là việc cần làm ngay để xây dựng nền tảng hoạt động vững chắc cho doanh nghiệp. Làm được như vậy, các doanh nghiệp không những có thể tự giúp chính mình, mà còn giúp cho môi trường kinh doanh chung được lành mạnh hơn, phù hợp hơn với xu thế hội nhập quốc tế.

* Tiêu đề bài viết Civillawinfor đặt lại

SOURCE: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN

Trích dẫn từ: http://www.thesaigontimes.vn/Home/doanhnghiep/phapluat/16411

Loading mentions Retweet
Filed under  //   lawyer  

Comments [0]

QUYỀN SỞ HỮU CHỨNG KHOÁN

LS. HỒ QUANG TÂN PHONG

Công ty cổ phần lập và lưu giữ sổ đăng ký cổ đông như một văn bản chứng minh quyền sở hữu cổ phần của mỗi cổ đông. Công ty phát hành cổ phiếu để xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty. Bằng chứng để xác nhận một người đang có quyền sở hữu đối với cổ phiếu là người đó phải được ghi tên vào sổ đăng ký cổ đông của công ty cổ phần và có sổ chứng nhận sở hữu cổ phần hoặc sổ cổ đông, trong đó khẳng định số lượng cổ phần và loại cổ phần sở hữu.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay, có nhiều công ty chỉ cấp cho cổ đông góp vốn một loại chứng từ kế toán gọi là phiếu thu, hoặc chỉ ghi tên cổ đông góp vốn trong sổ đăng ký cổ đông; điều này chưa đủ, không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của những người góp vốn. Đối với chứng khoán đã niêm yết thì bằng chứng cho việc sở hữu chứng khoán là bảng sao kê tài sản giao dịch chứng khoán do công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch cấp, trong đó xác định số chứng khoán thuộc sở hữu của nhà đầu tư. Hiện nay quyền sở hữu các loại chứng khoán được điều chỉnh chủ yếu bởi các bộ luật sau đây: Bộ Luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán nên quyền sở hữu chứng khoán cũng được thừa nhận bởi ba quyền: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Tuy nhiên biểu hiện của các quyền trên rất đa dạng và rất khác nhau vì chúng tùy thuộc vào mục đích của nhà sở hữu chứng khoán, loại chứng khoán là cổ phiếu hay trái phiếu, chứng khoán được niêm yết hay chưa niêm yết. Dưới đây là một số quyền và lợi ích của chủ sở hữu chứng khoán:

- Người sở hữu chứng khoán còn có quyền quyền nhận lợi nhuận từ việc sở hữu chứng khoán; đây là quyền của nhà đầu tư sở hữu chứng khoán xuất phát từ đặc thù của chứng khoán có tính sinh lợi, và lợi nhuận nầy được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Nếu nhà sở hữu chứng khoán có ý định nắm giữ chứng khoán trong thời gian dài thì mức lợi nhuận được hưởng sẽ là lãi suất (nếu sở hữu trái phiếu), hoặc cổ tức (nếu sở hữu cổ phiếu) do tổ chức phát hành chi trả. Trong trường hợp này, người sở hữu có các quyền và lợi ích của chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản là chứng khoán. Ngược lại, nếu nhà sở hữu quyết định nắm giữ các chứng khoán để chờ giá lên sẽ bán thì lợi nhuận thu được từ việc sở hữu chứng khoán chủ yếu là mức chênh lệch giữa giá mua và giá bán; quyền sở hữu chứng khoán lúc này được thể hiện chủ yếu ở quyền quyết định mua, bán chứng khoán để kiếm lời.

- Quyền tham dự và phát biểu tại Đại hội đồng cổ đông, được quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đai diện được ủy quyền (trừ trường hợp đối với cổ đông sở hữu cổ phần ưu đải cổ tức và cổ phần ưu đãi hoàn lại); quyền được cung cấp thông tin; quyền tự do chuyển nhượng, mua bán, tặng cho, thừa kế chứng khoán; quyền được cầm cố chứng khoán. Đây là quyền cơ bản đối với nhà sở hữu cổ phiếu với tư cách đồng thời là chủ sở hữu công ty cổ phần.

- Quyền được cung cấp thông tin: Đây là quyền đặc trưng của nhà sở hữu chứng khoán so với sở hữu các loại tài sản khác. Khi sở hữu chứng khoán, người sở hữu chứng khoán được quyền hưởng lợi do chứng khoán đem lại. Thị trường chứng khoán là thị trường của những thông tin, dựa vào đó nhà đầu tư có thể thực hiện mọi giao dịch đối với chứng khoán.

- Quyền tự do chuyển nhượng, mua bán, tặng cho, thừa kế chứng khoán: Đây là quyền cơ bản của nhà sở hữu chứng khoán, gắn với đặc tính thanh khoản của chứng khoán. Người sở hữu chứng khoán có quyền tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán nhưng phải tuân thủ các điều kiện, thủ tục gia nhập thị trường. Về nguyên tắc, người sở hữu chứng khoán được quyền tự do chuyển nhượng chứng khoán, trừ một số trường hợp bị hạn chế chuyển nhượng theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ công ty.

- Quyền được cầm cố chứng khoán để vay vốn, và dùng tài sản bảo đảm là các chứng khoán để cầm cố, bảo đảm trả nợ cho các khoản tín dụng đó. Chủ sở hữu chứng khoán có quyền thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán có kỳ hạn trong một khoảng thời gian thỏa thuận nhất định với công ty chứng khoán khi họ có nhu cầu về vốn mà không muốn bán đứt chứng khoán của mình. Hết thời hạn đó nhà đầu tư có thể mua lại số lượng chứng khoán đã bán này từ công ty chứng khoán với mức giá xác định trước tại thời điểm bán chứng khoán.

- Quyền góp vốn bằng chứng khoán để thành lập công ty: Khi thực hiện quyền này phải tuận thủ các điều kiện về góp vốn, xác định giá trị phần vốn góp theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

- Quyền được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ  cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty.

- Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục tuyên bố phá sản công ty cổ phần đối với cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác…

- Quyền sở hữu chứng khoán là quyền cần thiết cho các nhà đầu tư, là yêu cầu của cuộc sống, thiếu các quyền nầy sự phát triển nền kinh tế có thể bị đình trệ, vì thế  nhà nước cần có chính sách bảo vệ quyền sở hữu chính đáng của các nhà đầu tư.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍNH MINH

Trích dẫn từ:

http://www.hcmcbar.org/index.php?option=com_contentlist&task=detail&cat=5&id=211

Loading mentions Retweet
Filed under  //   LDS - Tai san va So huu   Thi truong chung khoan  

Comments [0]